Ung thư cổ tử cung

Thảo luận trong 'Sức khỏe phụ nữ' bắt đầu bởi LanEva, 2 Tháng tám 2013. 0 Trả lời, 696 Đọc

  1. LanEva

    LanEva Thành viên đang bị cấm

    Tham gia ngày:
    27 Tháng bảy 2013
    Bài viết:
    5
    Đã được thích:
    0
    [h=2]LanEva xin chào các bạn. Hôm nay LanEva xin chia sẻ kiến thức về ung thư cổ tử cung. Mong sẽ giúp ích được các chị em phụ nữ. Thân ái!

    1.Ung thư Cổ tử cung là gì
    [/h]
    Ung thư cổ tử cung, một loại ung thư thường gặp ở phụ nữ, là một căn bệnh mà những tế bào ung thư ác tính xuất hiện trong mô cổ tử cung. Cổ tử cung là đoạn mở của tử cung. Tử cung là một bộ phận có hình quá lê, rỗng nơi bào thai phát triển. Cổ tử cung nối tử cung với âm đạo (ống sinh sản).
    Ung thư cổ tử cung thường phát triển chậm. Trước khi phát hiện ra tế bào ung thư ở cổ tử cung, các mô ở cổ tử cung trải qua những thay đổi trong đó các tế bào bất thường bắt đầu xuất hiện (hiện tượng loạn sản). Những tế bào ung thư này thường được phát hiện nhờ việc làm phiến đồ âm đạo (xét nghiệm Pap). Muộn hơn, Tế bào ung thư bắt đầu phát triển và lan sâu thêm vào cổ tử cung và những vùng xung quanh.
    Do ung thư cổ tử cung thường không có triệu chứng, bác sĩ phải tiến hành xét nghiệm hàng loạt để tìm bệnh. Xét nghiệm đầu tiên là làm phiến đồ âm đạo Pap, được tiến hành bằng cách dùng một miếng bông, một bàn chải, hoặc một que gỗ nhỏ để cạo nhẹ bên ngoài cổ tử cung để lấy tế bào.
    Nếu phát hiện ra tế bào bất thường bác sẽ phải cắt một mẫu mô (gọi là sinh thiết) ở cổ tử cung và quan sát dưới kính hiển vi để xem có tế bào ung thư không. Sinh thiết mảnh mô nhỏ có thể được thực hiện tại phòng khám của bác sĩ. Nếu cần lấy một mảnh lớn hơn (cắt hình nón) bệnh nhân có thể phải đến bệnh viện.
    Tiên lượng (khả năng hồi phục) và việc lựa chọn phương pháp điều trị được quyết định dựa trên giai đoạn ung thư (ung thư còn trong cổ tử cung hay đã lan sang bộ phận khác của cơ thể) và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân.
    2.Các yêu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung là gì?
    Bằng cách nghiên cứu một số lượng lớn phụ nữ trên toàn thế giới, các nhà nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố nguy cơ nhất định làm tăng khả năng chuyển Tế bào bình thường ở cổ tử cung thành bất thường hay ung thư. Họ tin rằng, trong nhiều trường hợp, ung thư cổ tử cung phát triển khi có từ hai yếu tố trở lên hoạt động cùng một lúc.
    Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ bắt đầu có quan hệ tình dục trước 18 tuổi và những phụ nữ có nhiêu bạn tình có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn. Người phụ nữ cũng có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn nếu bạn tình bắt đầu quan hệ tình dục lúc còn quá trẻ, đã có nhiều bạn tình, hoặc trước đây kết hôn với người bị ung thư cổ tử cung.
    Các nhà nghiên cứu không biết chính xác tại sao việc quan hệ tình dục của người phụ nữ và bạn tình của họ lại ảnh hưởng tới nguy cơ phát triển bệnh ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng một số loại vi rút lây nhiễm qua đường tình dục có thể khiến tế bào trong cổ tử cung trải qua hàng loạt thay đổi từ đó có thể dẫn tới ung thư. Phụ nữ có nhiều bạn tình hoặc có quan hệ với những người đã từng có nhiều bạn tình có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn ít nhất một phần bởi vì khả năng nhiễm vi rút lây qua đường tình dục cao hơn.
    Các nhà nghiên cứu đang tiến hành nghiên cứu ánh hưởng của loại vi rút lây qua đường tình dục có tên là vi rút papilloma ở người (HPV). Một số loại HPV lây nhiễm qua đường tình dục gây ra mụn cơm ở vùng sinh dục. Bên cạnh đó, các nhà khoa học còn cho rằng một số loại vi rút này có thể gây ra sự phát triển của những tế bào bất thường ở cổ tử cung và góp phần vào quá trình phát triển ung thư. Họ phát hiện ra ràng phụ nữ mang HPV hoặc những người có bạn tình mang HPV có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn bình thường. Tuy nhiên, hầu hết phụ nữ bị nhiễm HPV không bị ung thư cổ tử cung, và loại vi rút này cũng không có mặt ở tất cả những phụ nữ bị ung thư cổ tử cung. Vì vậy, các nhà khoa học tin rằng còn có những yếu tố khác tác động cùng với HPV, ví dụ như vi rút Herpes sinh dục cũng có thể góp phần. Cần phải tiếp tục nghiên cứu để biết chính xác vai trò của những loại vi rút này và phương thức chúng hoạt động cùng với các yếu tố khác đối với sự phát triển của bệnh ung thư cổ tử cung.
    Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung, mặc dù vẫn chưa biết rõ là như thế nào và tại sao. Nguy cơ này dường như tăng tỷ lệ thuận với lượng thuốc lá mà người phụ nữ hút hàng ngày và số năm hút thuốc.
    Những phụ nữ có mẹ uống diethylstilbestrol (DES) tronq khi mang thai để' ngừa sảy thai cũng có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn. (Thuốc được sử dụng cho mục đích này khoảng từ năm 1940-1970). Một loại ung thư âm đạo và cổ tử cung hiếm gặp được phát hiện thấy ở một số ít những bệnh nhân có mẹ đã sử dụng DES.
    Một Số báo cáo cho biết những phụ nữ có hệ thông miễn dịch bị suy yếu cũng có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cao hơn những người khác. Ví dụ, phụ nữ bị nhiễm vi rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV) gây bệnh AIDS có nguy cơ ung thư cao hơn. Những bệnh nhân được ghép tạng phải dùng thuốc ức chế hệ thống miền dịch chống thải ghép có nguy cơ bị tổn thương tiền ung thư cao hơn những người khác.
    Một số nhà nghiên cứu tin rằng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung tăng lên ở những phụ nữ uống thuốc tránh thai. Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa tìm ra được liệu thuốc tránh thai có trực tiếp gây ra ung thư cổ tử cung không. Mối quan hệ này rất khó chứng minh bởi vì hai nguy cơ chính gây ung thư cổ tử cung là quan hệ tình dục khi còn trẻ và có nhiều bạn tình cũng có thể thường gặp hơn ở những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai so với những phụ nữ không sử dụng thuốc tránh thai. Như vậy, các nhãn dán trên thuốc tránh thai cũng cảnh báo nguy cơ này và khuyên những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai nên làm phiến đồ Pap hàng năm.
    Một số nghiên cứu cho thấy vitamin A đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn hoặc phòng chống nhữnq thay đối tiền ung thư trong những tế bào giống như những tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Những nghiên cứu tiếp theo về các dạng của vitamin A có thể giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về việc phòng chống ung thư cổ tử cung.
    Hiện nay, việc phát hiện sớm và điều trị biến đổi tiền ung thư vẫn là những cách thức phòng chống ung thư cổ tử cung hiệu quả nhất. Thông tin về phát hiện sớm trình bày chi tiết trong mục riêng ở dưới đây. Phụ nữ nên nói chuyện với bác sĩ của họ về lịch khám kiểm tra phù hợp. Lời khuyên của bác sĩ sẽ dựa trên cơ sở những yếu tố như độ tuổi, tiền sử bệnh sử, và các yếu tố nguy cơ này và khuyên những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai nên làm phiến đồ Pap hàng năm.
    Một số nghiên cứu cho thấy vitamin A đóng một vai trò quan trọng trong việc ngần chặn hoặc phòng chôhg những thay đoi tiên unq thư trong những tế bào giống như những tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Những nghiên cứu tiếp theo về các dạng của vitamin A có thể giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về việc phòng chống ungthư cổ tử cung.
    Hiện nay, việc phát hiện sớm và điều trị biến đổi tiền ung thư vần là những cách thức phòng chống ung thư cổ tử cung hiệu quả nhất. Thông tin về phát hiện sớm trình bày chi tiết trong mục riêng ở dưới đây. Phụ nữ nên nói chuyện với bác sĩ của họ về lịch khám kiểm tra phù hợp. Lời khuyên của bác sĩ sẽ dựa trên cơ sở những yếu tố như độ tuổi, tiền sử bệnh sử, và các yếu tố nguy cơ.

    3. Ung thư cổ tử cung được phát hiện như thế nào? Triệu chứng cùa ung thư cổ tử cung là gì?
    Nhiều năm qua, các bác sĩ đã sử dụng những thuật ngữ khác nhau để nói tới những thay đổi bất thường ở những tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Một thuật ngữ được sử dụng hiện nay là tổn thương trong biểu mô tế bào vảy (SIL). (Từ tổn thương đề cập tới vùng có mô bất thường; trong biểu mô có nghĩa là những tế bào bất thường mà chỉ có trên lớp tế bào bề mặt). Những thay đổi ở những tế bào này có thể phân chia thành hai loại:
    SIL mức độ thấp đề cập tới những thay đổi còn sớm về kích thước, hình dáng, và số lượng tế bào tạo nên bề mặt cổ tử cung. Một Số tổn thương mức độ thấp có thể tự biến mất. Tuy nhiên, theo thời gian, một số tổn thương khác có thể phát triển rộng hơn hoặc trở nên bất thường hơn, tạo nên tổn thương mức độ cao. Tổn thương tiền ung thư mức độ thấp có thể gọi là hiện tượng loạn sản nhẹ hoặc hiện tượng tân tạo trong biểu mô cổ tử cung 1 (CIN 1). Những thay đổi ban đầu như vậy thường xảy ra nhất ở những phụ nữ tuổi từ 25-35 nhưng cũng có thể xuất hiện ở những nhóm tuổi khác.
    SIL mức độ cao có nghĩa là có một số lượng lớn Tế bào có dấu hiệu tiền ung thư; chúng trông rất khác những tế bào thường. Giống như SIL mức độ thấp, những thay đổi tiền ung thư này chỉ liên quan tới nhũng tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Những tế bào này sẽ không trở thành ung thư và không xâm lấn vào những lớp Tế bào sâu hơn của cổ tử cung trong nhiều tháng, có thể trong nhiều năm. Tổn thương mức độ cao còn được gọi là hiện tượng loạn sản mức độ vừa hoặc nặng, CIN 2 hoặc 3, hay ung thư biểu mô nông tại chỗ. Chúng thường xuất hiện nhiều nhất ở những phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 40 nhưng cũng có thể xảy ra ở những độ tuổi khác.
    Nếu những tế bào bất thường lan sâu hơn vào cổ tử cung hoặc tới các mô khác hoặc các cơ quan khác, bệnh được gọi là ung thư cổ tử cung, hay ung thư cổ tử cung thể xâm lấn. Nó thường xảy ra nhất ở những phụ nữ ở độ tuổi ngoài 40.
    Phát hiện sớm
    Nếu tất cả phụ nữ được thăm khám vùng chậu và làm nghiệm pháp Pap định kỳ thì hầu hết các điều kiện tiền ung thư sẽ được phát hiện và được điều trị trước khi ung thư xuất hiện. Bằng cách đó, hầu hết các loại ung thư thể xâm lấn có thể phòng ngừa được. Tất cả các loại ung thư thể xâm lấn xảy ra có thể được phát hiện ra ở giai đoạn sớm và có thể chữa khỏi được.
    Khi khám vùng chậu, bác sĩ kiểm tra tử cung, âm đạo, buồng trứng, vòi trứng, bàng quang, và trực tràng. Bác sĩ sẽ khám những cơ quan này để phát hiện ra những bất thường về hình dáng và kích thước. Bác sĩ có thể phải sử dụng một mỏ vịt để mở rộng âm đạo giúp nhìn thấy phần trên cao của âm đạo và cổ tử cung.
    Nghiệm pháp Pap là một xét nghiệm đơn giản, không đau để phát hiện ra những tế bào bất thường ở trong và xung quanh cổ tử cung. Phụ nữ nên làm nghiệm pháp này ngoài những ngày có kinh nguyệt; thời gian tốt nhất là khoảng 10 đến 20 ngày sau ngày thứ nhất của chu kỳ kinh nguyệt. Trong khoảng hai ngày trước khi tiến hành nghiệm pháp Pap, nên tránh tắm vòi hoa sen hoặc sử dụng bọt, kem, hay gel diệt tinh trùng hoặc đặt thuốc âm đạo ( trừ những loại được bác sĩ chỉ định), những loại thuốc này có thể rửa trôi hoặc giấu đi các tế bào bất thường.
    Nghiệm pháp Pap cố thể tiến hành ở phòng khám hoặc trong bệnh viện. Dùng một cái nạo bằng gỗ (cái bay) hoặc một bàn chải nhỏ để lấy tế bào cổ tử cung và phần trên âm đạo. Những tế bào này được đặt lên một phiến kính và gửi tới phòng thí nghiệm để kiểm tra nhằm phát hiện ra những thay đổi bất thường.
    Cách thức miêu tả kết quả nghiệm pháp Pap đang thay đổi. Phương pháp mới nhất là phương pháp sử dụng hệ thống Bethesda. Những thay đổi được mô tả theo SIL mức độ thấp hoặc là SIL mức độ cao. Nhiều bác sĩ cho rầng hệ thống Bethesda cung cấp nhiều thông tin bổ ích hơn hệ thống cũ, hệ thống cũ sử dụng các con số từ hạng 1 đến hạng 5. (Trong hạng 1, tế bào trong mẫu xét nghiệm là bình thường, còn hạng 5 là ung thư thể xâm lấn). Phụ nữ nên đề nghị bác sĩ giải thích hệ thống mô tả kết quả cho nghiệm pháp Pap của họ.
    Phụ nữ nên đi khám định kỳ, bao gồm khám vùng chậu và làm nghiệm pháp Pap, nếu họ ở độ tuổi hoặc đã ở độ tuổi có hoạt động tình dục hay nếu họ >18 tuổi. Những người có nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng cao cần đặc biệt tuân theo lời khuyên của bác sĩ về việc khám định kỳ. Những phụ nữ đã được cẳt tử cung (phẫu thuật cắt tử cung và cả cổ tử cung) nên hỏi ý kiến bác sĩ về việc khám vùng chậu và làm nghiệm pháp Pap.
    Những thay đối tiền ung thư ở cổ tử cung thường không gây đau đớn. Thực tế là chúng thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và sẽ không được phát hiện nếu người phụ nữ không đi khám và làm nghiệm pháp Pap.
    Triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi tế bào bất thường ở cổ tử cung trở thành ung thư và xâm lấn vào các mô bên cạnh. Khi điều này xảy ra thì hiện tượng thường gặp nhất là ra máu một cách bất thường. Hiện tượng ra máu có thể bắt đầu và ngừng ở giữa chu kỳ kinh nguyệt, hoặc có thể xảy ra sau khi quan hệ tình dục, tắm vòi hoa sen, hoặc là khám vùng chậu. Kinh nguyệt có thể kéo dài hơn và với số lượng nhiều hơn bình thường. Ra máu sau khi mãn kinh có thể là một triệu chứng của ung thư cổ từ cung. Hiện tượng ra nhiều khí hư là một triệu chứng khác của ung thư cổ tử cung.
    Những triệu chứng này có thể do ung thư hoặc các bệnh khác gây ra. Chỉ có bác sĩ mới có thể khẳng định được. Điều quan trọng là người phụ nữ phải đến khám bác sĩ ngay khi có bất kỳ triệu chứng nào trong số này.
    4. Ung thư cổ tử cung được chần đoán như thế nào?
    Khi phát hiện ra ung thư cổ tử cung bệnh nhân sẽ phải làm thêm các xét nghiệm để xem tế bào ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể chưa. Việc thăm dò này là quá trình phân giai đoạn. Để lên kế hoạch điều trị bác sĩ cần phải biết bệnh đang ở giai đoạn nào. Ung thư cổ tử cung được chia thành những giai đoạn sau:
    Giai đoạn 0 hay ung thư biểu mô nông tại chỗ
    Những triệu chứng này có thể do ung thư hoặc các bệnh khác gây ra. Chỉ có bác sĩ mới có thể khẳng định được. Điều quan trọng là người phụ nữ phải đến khám bác sĩ ngay khi có bất kỳ triệu chúng nào trong số này.
    Giai đoạn I
    Ung thư chỉ gây tổn thương cổ tử cung mà chưa lan sang khu vực lân cận.
    Giai đoạn IA: Một lượng nhỏ tế bào ung thư ở sâu hơn trong lớp mô cổ tử cung nhưng chỉ được phát hiện ra trên kính hiển vi.
    Giai đoạn IB: Một lượng lớn tế bào ung thư được phát hiện ra trong lớp mô cổ tử cung.
    Giai đoạnII
    Ung thư đã lan sang những vùng lân cận nhưng còn giới hạn trong vùng chậu.
    Giai đoạn IIA: Ung thư đã lan hết cổ tử cung tới 2/3 trên âm đạo.
    Giai đoạn IIB: Ung thư đã lan sang mô xung quanh cổ tử cung.
    Giai đoạn III
    Ung thư đã lan ra ngoài vùng chậu. Tế bào ung thư có thể lan tới phần dưới âm đạo. Những tế bào này có thể lan sang và làm tắc nghẽn niệu quản.
    Giai đoạn IV
    Ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể.
    Giai đoạn IVA: Ung thư đã lan sang bàng quang hay trực tràng (những cơ quan gần cổ tử cung).
    Giai đoạn IVB: Ung thư đã lan sang các cơ quan ở xa như phổi.
    Ung thư tái phát
    Bệnh tái phát có nghĩa là ung thư xuất hiện trở lại sau khi đã được điều trị. Nó có thể xuất hiện lại ở cổ tử cung hoặc ở một vị trí khác.
    5.Ung thư cổ tử cung được điều trị như thế nào?
    Ba phương pháp điều trị được áp dụng cho điều trị ung thư cổ tử cung.
    • Phẫu thuật (cắt bỏ ung thư bằng phẫu thuật)
    • Tia xạ trị liệu (dùng tia X liều cao hoặc tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt Tế bào ung thư).
    • Hóa trị liệu (sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư)
    Bác sĩ có thể sử dụng một trong vài phương pháp phẫu thuật đối với ung thư biểu mô nông tại chỗ để tiêu diệt mô ung thư:
    • Phẫu thuật lạnh là phương pháp tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách làm đông lạnh nó.
    • Phẫu thuật bằng tia lazer là phương pháp dùng chùm tia hẹp có cường độ ánh sáng mạnh để diệt tế bào ung thư.
    Bác sĩ có thể loại bỏ ung thư bằng cách áp dụng một trong ba dạng phẫu thuật sau:
    • Thủ thuật cắt bỏ mô hình nón là phương pháp lấy ra một mảnh mô hình nón ở nơi phát hiện ra sự bất thường. Có thể áp dụng thủ thuật cắt hình nón để sinh thiết một mảnh mô. Nhưng phương pháp này chỉ được áp dụng để điều trị ung thư cố tử cung giai đoạn sớm.
    • Bác sĩ có thể áp dụng phương pháp khác là cắt bằng vòng dây điện (LEEP) để loại bỏ mô bất thường. Phương pháp LEEP sử dụng một dòng điện truyền qua một vòng dây kim loại mảnh đóng vai trò như một con dao.
    • Chùm tia lazer có thể được sử dụng như một con dao để loại bỏ mô ung thư.
    • Thủ thuật cắt tử cung là phẫu thuật cắt bỏ tử cung và cổ tử cung cùng với ung thư. Nếu từ cung được lấy ra qua âm đạo thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt tử cung qua âm đạo. Nếu tử cung được lấy ra qua vết mổ ở bụng thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt toàn bộ tử cung qua ổ bụng. Đôi khi buồng trứng và vòi trứng cũng được cắt bỏ, loại phẫu thuật này được gọi là thủ thuật cắt buồng trứng và vòi trứng hai bên.
    • Thủ thuật cắt tử cung triệt để là loại phẫu thuật mà trong đó cổ tử cung, tử cung và một phần âm đạo được cắt bỏ. Các hạch bạch huyết trong vùng này cũng được vét bỏ.
    • Nếu ung thư đã lan ra ngoài cổ tử cung hay những cơ quan sinh dục, bác sĩ có thể cắt bỏ đoạn dưới đại tràng, trực tràng, hoặc bàng quang (tuỳ vào vị trí mà ung thư đã lan tới) cùng với cổ tử cung, tử cung và âm đạo. Phương pháp này được gọi là cắt bỏ nội tạng và hiếm khi được sử dụng. Có thể sau đó phải tiến hành phầu thuật tạo hình để tạo âm đạo giả.
    Tia xạ trị liệu là việc sử dụng tia X hay những tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt tế bào ung thư và làm khối u nhỏ lại. Tia phóng xạ có thể xuất phát từ một máy bên ngoài cơ thể (chiếu xạ ngoài) hay từ những nguyên liệu phát xạ (các chất đồng vị phóng xạ) được đưa vào vùng có tế bào ung thư qua những ống nhựa nhỏ (chiếu xạ trong). Có thể sử dụng tia phóng xạ đơn độc hoặc bổ sung cho phẫu thuật.
    Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc có thể ở dạng uống như viên nang hoặc có thể được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm vào tĩnh mạch. Hóa trị liệu còn được gọi là phương pháp điều trị hệ thống hay toàn thân bởi thuốc đi vào mạch máu tới khắp cơ thể và có thể tiêu diệt tế bào ung thư ở ngoài cổ tử cung.
    Điều trị theo giai đoạn
    Điều trị ung thư cổ tử cung phụthuộc vào giai đoạn bệnh, kích thước khối u, độ tuổi cùa bệnh nhân, tình trạng chung, và nguyện vọng sinh con.
    Điều trị ung thư cổ tử cung đối với bệnh nhân đang mang thai có thể được trì hoãn tuỳ theo giai đoạn ung thư và bệnh nhân đang mang thai tháng thứ mấy.
    Phương pháp điều trị chuẩn có thể được xem xét bởi tính hiệu quả của nó đối với những bệnh nhân trong những nghiên cứu trước đây hoặc có thể xem xét khả năng tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng. Không phải tất cả bệnh nhân đều được chữa khỏi bằng phương pháp điều trị chuẩn và một số phương pháp điều trị chuẩn có thể có nhiều tác dụng phụ hơn mong muốn. Vì những lý do này mà thử nghiệm lâm sàng được tiến hành để tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho các bệnh nhân ung thư dựa trên những thông tin mới nhất. Thử nghiệm lâm sàng được tiến hành ở nhiều nơi
    cho hầu hết các giai đoạn ung thư cổ tử cung.
    Ung thư cổ tử cung giai đoạn 0
    Ung thư cổ từ cung giai đoạn 0 đôi khi còn được gọi là ung thư biểu mô nông tại chỗ.
    Có thể điều trị bằng một trong những phương pháp dưới đây:
    (1) Thủ thuật cắt hình nón
    (2) Phẫu thuật bằng lazer
    (3) Thủ thuật cắt bằng vòng dây điện (LEEP)
    (4) Phẫu thuật lạnh
    (5) Phẫu thuật cắt bỏ vùng ung thư, cổ tử cung, và tử cung (cắt tử cung toàn bộ qua đường âm đạo hoặc qua đường ổ bụng) cho những phụ nữ không thể hoặc không muốn có con nữa.
    Ung thư cố tử cung giai đoạn I
    Có thể điều trị theo một trong những phương pháp điều trị sau tuỳ theo độ sâu mà tế bào ung thư xâm lấn vào mô lành:
    Ung thư giai đoạn IA:
    (1) Phẫu thuật cắt bỏ ung thư, tử cung, và cổ tử cung (cắt tử cung toàn bộ qua đường ổ bụng). Hai buồng trứng cũng có thể bị cắt bỏ (cắt buồng trứng, vòi trứng hai bên), nhưng thường không được tiến hành ở các phụ nữ trẻ.
    (2) Cắt hình nón
    (3) Đối với những khối u đã xâm lấn sâu hơn (3 - 5mm): Phẫu thuật cắt ung thư, tử cung và một phần âm đạo (cắt tử cung triệt để) cùng với các hạch ở vùng chậu (phương pháp vét hạch).
    (4) Điều trị bằng tia phóng xạ trong.
    Ung thư giai đoạn IB:
    (1) Điều trị tia phóng xạ trong và ngoài
    (2) Cắt tử cung triệt để và vét hạch.
    (3) Cắt từ cung triệt để và vét hạch sau đó bổ sung bằng điều trị tia phóng xạ và hóa chất.
    (4) Điều trị tia phóng xạ và hóa chất.

    Ung thư cổ tử cung giai đoạn II

    Có thể điều trị bằng một trong những phương pháp sau:
    Ung thư giai đoạn ILA:
    (1) Điều trị tia phóng xạ trong và ngoài.
    (2) Cắt tử cung triệt để và vét hạch.
    (3) Cắt tử cung triệt để và vét hạch sau đó bổ sung bằng điều trị tia phóng xạ và hóa chất.
    (4) Điều trị tia phóng xạ và hóa chất
    Ung thư giai đoạn IIB:
    (1) Điều trị tia phóng xạ trong và ngoài cộng với hóa chất.
    Ung thư cổ tử cung giai đoạn III
    (1) Điều trị tia phóng xạ trong và ngoài cộng với hóa chất.
    Ung thư cổ tử cung giai đoạn IV
    Có thể điều trị bằng một trong những phương pháp sau:
    Ung thư giai đoạn IVA:
    (1) Điều trị tia phóng xạ trong và ngoài cộng với hóa chất.
    Ung thư giai đoạn IVB:
    (1) Điều trị tia phóng xạ làm giảm triệu chứng của bệnh ung thư
    (2) Hóa trị liệu
    Ung thư cổ tử cung tái phát
    Nếu ung thư xuất hiện trở lại ở vùng chậu, điều trị có thể là:
    (1) Điều trị tia phóng xạ phối hợp với hóa chất
    (2) Hóa trị liệu giảm triệu chứng ung thư
    Nếu ung thư xuất hiện trở lại ở ngoài vùng chậu, bệnh nhân có thể chọn lựa một thử nghiệm lâm sàng dùng hóa chất điều trị toàn thân.
    6. Khám định kỳ theo dõi gồm những gì?
    Khám theo dõi định kỳ bao gồm khám vùng chậu, làm nghiệm pháp Pap và các xét nghiệm cận lâm sàng khác. Khám định kỳ là rất quan trọng đối với tất cả phụ nữ đã được điều trị những thay đổi tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung. Bác sĩ sẽ tiến hành làm những xét nghiệm này và khám định kỳ trong vài năm để kiểm tra những dấu hiệu báo hiệu bệnh lý tái phát.
    Điều trị ung thư có thể gây ra tác dụng phụ sau nhiều năm. Vì lý do này bệnh nhân nên tiếp tục khám định kỳ và thông báo ngay với bác sĩ những vấn đề bất thường về sức khỏe.

    LanEva thân ái!

    Công tác tại: Bệnh viện ung bướu Hưng Việt
    Website: benhvienungbuouhungviet.vn

     


    do choi tinh duc | Textlink tại đây liên hệ: quangcao@phunuvn.net


Chia sẻ trang này