HÀ NỘI Lời khuyên cho các mẹ sắp sinh (phần 3)

Thảo luận trong 'Dịch vụ làm đẹp - sức khỏe' bắt đầu bởi binhminh, 1 Tháng mười một 2013. 0 Trả lời, 564 Đọc

  1. binhminh

    binhminh Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    1 Tháng tám 2013
    Bài viết:
    20
    Đã được thích:
    2
    Bài 7. Hiện tượng đau đẻ

    Tìm hiểu đôi chút về quá trình đau đẻ là một việc rất quan trọng. Nhờ đó, bạn sẽ nhận biết được khi nào mình đau đẻ và biết phải làm gì khi cơn đau đẻ bắt đầu.

    1. Nguyên nhân đau đẻ

    Rất tiếc là chúng tôi lại không có câu trả lời xác đáng cho vấn đề này, vì nguyên nhân gây ra những cơn đau đẻ hiện vẫn chưa được các nhà nghiên cứu tìm ra. Có rất nhiều lý thuyết giải thích nguyên nhân dẫn đến đau đẻ. Một trong số đó cho rằng, các loại hoóc môn do cả bà mẹ và thai nhi sản xuất ra đã “châm ngòi” cho hiện tượng này. Một lý thuyết khác lại cho rằng, chính cơ thể của bào thai đã sinh ra loại hoóc môn làm tử cung co thắt.

    2. Qúa trình đau đẻ

    Đau đẻ là quá trình mở dần cổ tử cung (giãn và nở). Đau đẻ xuất hiện do cơ ở tử cung co thắt để đẩy thai nhi ra ngoài. Khi thai nhi đã được đẩy ra, cổ tử cung sẽ giãn.

    Nhiều lúc bạn sẽ cảm thấy tử cung thắt lại, co bóp hoặc bị ép mạnh, nhưng đó không thực sự là đau đẻ cho tới khi diễn ra một số thay đổi ở cổ tử cung.

    3. Những dấu hiệu trước khi đau đẻ

    - Nước đầu ối: Nhiều phụ nữ có kinh nghiệm với “nước đầu ối”, việc tiết ra một thứ chất nhầy màu hồng nhạt/đỏ từ âm đạo. Chất nhờn này bảo vệ dạ con khỏi nhiễm trùng trong thời gian mang thai và sự xuất hiện của nó là một dấu hiệu cho thấy rằng, cơn đau đẻ sẽ có thể bắt đầu trong một vài giờ/ngày sắp tới.

    - Đau lưng dưới: Cần phải đi vệ sinh và chứng chuột rút giống như thời kỳ tiền kinh nguyệt là những dấu hiệu của việc đau đẻ sớm.

    - Nước ối vỡ: Điều này có thể xảy ra với một dòng chảy, phụ thuộc vào lượng chất lưu màng ối của bạn. Chất lưu đó hoàn toàn sạch với màu vàng nhẹ và có thể bị nhuốm máu đầu tiên. Sử dụng băng vệ sinh, nếu dung dịch vẫn tiếp tục chảy, nhưng nếu có nhiều chất lưu bạn có thể cần đến một băng thấm lớn. Bạn nên liên lạc với bệnh viện trong trường hợp dịch ngừng chảy, bởi vì lúc đó có thể bắt đầu bị nhiễm trùng.

    - Các cơn co bóp bắt đầu: Nó có thể diễn ra trong hàng giờ, thậm chí là hàng ngày đối với các cơn co bóp để tạo nên và gây áp lực cho cổ tử cung mở ra (giãn ra).

    4. Ba giai đoạn của quá trình đau đẻ

    Giai đoạn 1: Giai đoạn một bắt đầu với những cơn co thắt tử cung dài, liên tục với cường độ mạnh làm mở cổ tử cung. Giai đoạn 1 kết thúc khi cổ tử cung đủ mở (thường khoảng 10 cm) để đầu thai nhi có thể chui lọt.

    Giai đoạn 2: Giai đoạn của quá trình này bắt đầu khi cổ tử cung mở hoàn chỉnh 10 cm và kết thúc khi đứa trẻ chào đời.

    Giai đoạn 3: Giai đoạn này bắt đầu ngay sau khi đứa trẻ chào đời và kết thúc khi nhau thai và màng ối được đẩy ra ngoài cơ thể mẹ.

    Một số bác sĩ cho rằng, quá trình này gồm 4 giai đoạn, giai đoạn thứ 4 là khoảng thời gian sau khi nhau thai đã được đẩy ra ngoài, tử cung co bóp trở lại. Sự co bóp của tử cung là rất quan trọng trong việc khống chế chảy máu sau khi sinh và sau khi nhau thai đã được đẩy ra ngoài.

    5. Quá trình đau đẻ kéo dài bao lâu?

    Thời gian đau đẻ qua 2 giai đoạn 1 và 2 của quá trình đau đẻ, từ khi cổ tử cung mở rộng đến khi hoàn tất việc sinh nở là khoảng từ 14 – 15 tiếng, có thể kéo dài hơn ở những trường hợp sinh con lần đầu. Thời gian đau đẻ của nhiều phụ nữ có thể ngắn hơn, không phải trường hợp nào cũng là 14 đến 15 tiếng.

    Các bà mẹ từng sinh nở một hoặc hai lần thường đau đẻ nhanh hơn, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Thời gian đau đẻ trung bình thường giảm đi vài tiếng đồng hồ ở những lần sinh thứ 2 và thứ 3.

    Cũng có những phụ nữ chỉ mất khoảng từ 1 đến 2 tiếng để đau đẻ và sinh con, nhưng lại có những phụ nữ phải mất 18, 20, 24 tiếng hoặc lâu hơn nữa.

    Chúng tôi không thể đoán trước được khoảng thời gian đau đẻ của từng phụ nữ, bạn có thể hỏi bác sĩ của bạn, nhưng chắc rằng câu trả lời nhận được cũng chỉ là một sự phỏng đoán.
    Bài 8. Cắt tầng sinh môn khi sinh

    Trong cơ thể, vùng đáy chậu hay tầng sinh môn là bộ phận ít được biết đến nhưng rất quan trọng trong lúc sinh đẻ và nhạy cảm trong quan hệ tình dục. Thai phụ khi sinh, những nếp nhăn niêm mạc ở lớp trong âm đạo mở ra hoàn toàn, lớp cơ ở giữa rất căng để cho thai nhi dễ ra khỏi tử cung, thông qua âm đạo. Nhưng trên thực tế, khi đầu thai chuẩn bị ra ngoài, nếu không có sự giúp đỡ của bác sĩ trợ sản bảo vệ tầng sinh môn thì thai phụ rất dễ bị rách tầng sinh môn khi sinh.

    1. Vì sao phải cắt tầng sinh môn?

    Về thẩm mỹ: Trong quá trình rặn đẻ, nếu tầng sinh môn không đủ giãn để bé chui ra thì sẽ bị rách. Vết rách sẽ ngoằn ngoèo và rất xấu so với vết cắt can thiệp là 1 đường thẳng. Vết rách dù được khâu kỹ vẫn có thể để lại sẹo xấu, ảnh hưởng tới vấn đề thẩm mỹ và lần sinh sau có thể bị rách nứt ngay vết sẹo cũ.

    Về sức khỏe: Vết rách có thể ảnh hưởng tới nút thớ trung tâm đáy chậu, làm tầng sinh môn bị nhão về sau. Khi đó, tầng sinh môn mất khả năng co hồi lại như bình thường, dẫn đến nguy cơ sa tử cung, âm đạo, trực tràng, bàng quang.
    Thời điểm cắt là lúc sản phụ đang có cơn gò tử cung, tức là đang đau rặn, nên cái đau do vết cắt sẽ bị lấp đi trong cái đau của cơn gò. Thực chất, cắt tầng sinh môn là để bảo vệ cho sản phụ chứ không phải làm cho nữ hộ sinh hoặc bác sĩ đỡ đẻ dễ hơn như vài sản phụ lầm tưởng.

    2. Những trường hợp nào cần cắt tầng sinh môn?

    - Tính đàn hồi của tầng sinh môn kém, miệng âm đạo nhỏ hẹp hoặc tầng sinh môn bị sưng phù… có thể khiến cho thai nhi sinh ra khó khăn, nguy cơ bị rách tầng sinh môn nghiêm trọng.

    - Thai nhi khá lớn, vị trí đầu thai không chuẩn, đầu thai nhi bị kẹp ở tầng sinh môn.

    - Những sản phụ trên 35 tuổi, thường mắc phải những bệnh nguy hiểm cao trong thời kì mang thai như tim, hội chứng cao huyết áp khi mang thai… Để giảm bớt sự tiêu hao thể lực của sản phụ, rút ngắn quá trình sinh sản, giảm bớt những nguy hiểm của việc sinh đẻ đối với người mẹ và trẻ, khi đầu của thai nhi hạ đến tầng sinh môn nên tiến hành mổ cắt tầng sinh môn.

    - Miệng tử cung đã mở hết, đầu thai khá thấp, nhưng thai nhi có hiện tượng thiếu oxy, nhịp tim của thai nhi không đều, có những biến đổi khác thường, nước ối có tình trạng vẩn đục hoặc có phân của thai nhi.

    Cắt tầng sinh môn không phải là triệt để, nhưng tốt hơn là để bị rách tầng sinh môn

    Phẫu thuật cắt tầng sinh môn là một vết thương thực thụ, dễ khâu và có thể liền sẹo trong vòng 5 – 7 ngày. Trong khi đó, nếu bạn để tầng sinh môn bị rách, các vết rách sẽ theo hình răng cưa và có thể sẽ rách rất rộng, chạm đến cơ thắt của hậu môn.

    3. Cắt tầng sinh môn như thế nào?

    Khi cái đầu của bé lấp ló ở âm đạo và âm đạo căng giãn tới mức tối đa, bạn sẽ được gây tê tại chỗ ở vùng sàn khung chậu. Khi cơn co thắt lên tới đỉnh cao, một đường cắt nhỏ sẽ được rạch từ đáy âm đạo và thường hơi chếch sang một bên. Có những trường hợp không đủ thời gian để chích thuốc tê, nhưng bạn cũng không cảm thấy đau do các mô căng đã bị tê tự nhiên.

    Sau đó, sẽ mất một ít thời gian để bạn được khâu lại các lớp da và cơ bắp (hoặc âm hộ nếu bị rách). Lúc này, có thể bạn sẽ cần thuốc tê nếu thấy đau. Thông thường, lớp niêm mạc và cơ được khâu bằng chỉ tự tiêu sau 3 tuần, còn lớp da được khâu bằng chỉ nilon (cắt chỉ sau 5 – 7 ngày). Việc tháo chỉ sẽ không gây đau cho bạn.

    4. Chú ý giữ vệ sinh sau khi cắt tấng sinh môn

    Tầng sinh môn phía trước gần âm đạo và phía sau gần hậu môn nên có rất nhiều vi khuẩn. Trong quá trình sinh, nếu màng thai vỡ sớm, quá trình sinh kéo dài và tầng sinh môn bị viêm, phù… sẽ làm cho việc lành miệng vết mổ ở tầng sinh môn chậm chạp.

    Do đó, sau khi mổ cắt tầng sinh môn, phải duy trì vệ sinh tại chỗ, mỗi lần sau khi đi vệ sinh xong nên dùng nước rửa ngay để tránh nhiễm trùng vết thương. Bạn có thể tự rửa bằng nước đun sôi với xà phòng thơm hoặc xà phòng trung tính rồi lau khô hằng ngày. Bạn cũng có thể dùng máy sấy tóc để làm khô nhanh vết khâu. Cần lưu ý là bạn nên mặc đồ lót thoáng.

    5. Những tác hại có thật của việc cắt tầng sinh môn

    - Cắt tầng sinh môn gây mất máu tương đương, thậm chí nhiều hơn so với một ca mổ chỉ định.

    - Vết cắt tầng sinh môn đau lâu và khó lành hơn so với vết rách tự nhiên.

    - Sự toàn vẹn của cơ đáy chậu bị ảnh hưởng do các cơ không được xếp lại đúng chỗ.

    - Gây rò âm đạo – hậu môn, dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ.

    - Sản phụ đã qua cắt tầng sinh môn sẽ bị đau đớn, khó khăn khi giao hợp cho tới ít nhất 3 tháng sau sinh.

    - Đau đớn kéo dài còn ảnh hưởng đến tâm lý người mẹ và việc cho con bú sau này.

    6. Tránh cắt tầng sinh môn như thế nào?

    Một số bệnh viện thường dùng thủ thuật này, vì vậy bạn nên trao đổi với bác sĩ về nguyện vọng tránh cắt tầng sinh môn nếu có thể. Để tránh khỏi phải qua những thủ thuật này hoặc bị rách âm hộ, bạn hãy:

    - Sinh con ở tư thế thẳng đứng, tránh nằm ngửa. Các tư thế như ngồi xổm, quỳ, hay nửa nằm nửa ngồi (có người đỡ) sẽ giúp cho bé xổ ra dễ dàng hơn.

    - Học cách thư giãn các cơ sản khung chậu: Thả lỏng cơ đáy chậu, cách phình lớp mô âm đạo và đáy chậu, cách hít thở khi có các cơn gò tử cung. Những bài tập này rất đơn giản và bạn có thể tự tập tại nhà nhưng tốt nhất bạn nên đăng ký theo học một lớp tiền sản một vài tháng trước khi sinh.
    Bài 9. Hiện tượng sót nhau thai sau sinh

    Thông thường, sau khi 30 phút bé chào đời, nhau thai sẽ được đẩy hết ra ngoài và kết thúc quá trình sinh đẻ đấy vất vả của người mẹ. Tuy nhiên, ở một số trường hợp, một phần nhau thai không được đẩy hết ra ngoài mà vẫn còn sót lại trong tử cung, gây nên tình trạng nguy hiểm cho người mẹ. Hiện tượng này rất ít xảy ra.

    1. Triệu chứng sót nhau thai

    Chảy máu là dấu hiệu sớm nhất, đau âm ỉ hoặc từng cơn ở vùng bụng dưới; nhiễm khuẩn xuất hiện ngày thứ 3 và 4 sau khi sinh hoặc nạo thai.

    2. Nguyên nhân

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất thường của nhau thai. Người ta cho rằng, nhau thai có thể dính vào một vết sẹo do lần mổ đẻ trước để lại, hoặc một vết rạch nào đó ở tử cung. Nhau thai cũng có thể dính vào chỗ đã từng bị nạo thai, hoặc chỗ bị viêm nhiễm ở tử cung.

    3. Cách xử trí

    Sau khi sinh, sản phụ thường bị chảy máu rất nhiều và có thể cần phải tiến hành phẫu thuật để làm ngưng chảy máu. Ngoài ra, còn phải nạo hút nhau ra ngoài, dùng kháng sinh kháng viêm và làm co tử cung. Trường hợp nặng (nhiễm khuẩn, chảy máu nặng) có thể phải mổ cắt tử cung.

    Động tác kiểm soát buồng tử cung có thể được nhân viên y tế thực hiện bằng tay có đeo găng, bằng dụng cụ hay siêu âm…. Sau khi sinh, tử cung, cổ tử cung, âm đạo nở rất rộng (tới 10 cm) nên việc dùng tay kiểm soát buồng tử cung rất dễ dàng.

    Phụ nữ có thai nên bổ sung sắt từ quý thứ 2 của thai kỳ, tức tháng thứ 4 trở đi sẽ hạn chế được hiện tượng sót nhau thai.
    Bài 10. Cách thở và thư giãn khi chuyển dạ

    Khi chuyển dạ việc thở và thư giãn có ý nghĩa rất quan trọng. Nhưng kết hợp giữa thở và thư giãn như thế nào cho đúng và phát huy được tác dụng cho giai đoạn chuyển dạ cũng là một việc rất đáng quan tâm.

    Khi cơn co bóp đến gần

    Khi bạn thấy những dự báo của các cơn co bóp đang chuẩn bị xảy ra bạn hãy hít thở thật sâu theo lối thở hoàn toàn. Sau đó thở nông với những lần hít vào thở ra nhanh, nhẹ và nhịp nhàng. Bạn cần thở nhẹ trong khi co bóp để tránh cho cơ hoành không tựa vào tử cung ngăn cản tử cung co bóp mạnh. Bởi vì cơ hoành là cơ nằm giữa lồng ngực và bụng. khi thở nó co lại và hạ xuống. Do đó, thở càng sâu, cơ hoành càng hạ xuống. Khi thở nông và nhẹ, cơ hoành chỉ động đậy sơ sơ.

    Đôi khi trong lúc chuyển dạ, trong cánh tay và trong cẳng chân xảy ra những hiện tượng kiến bò có kèm theo những cơn co cơ và cảm giác khó chịu toàn thân. Tất cả tình trạng này sẽ biến mất nhanh khi tiêm canxi vào tĩnh mạch.

    Trong suốt thời gian chuyển dạ, nhất là cuối giai đoạn giãn nở, nếu đầu đứa trẻ đã tiến vào, có thể bạn cảm thấy nhu cầu “rặn” giữa những cơn co bóp.Vào giai đoạn này bằng cách rặn, bạn sẽ không giúp cho việc chuyển dạ, bạn chỉ làm cho nó gây đau đớn hơn mà thôi. Hơn nữa điều đó không có ích lợi gì chỉ làm phí thời gian và công sức của bạn. Rặn khi cổ tử cung chưa được giãn nở đầy đủ sẽ cản trở việc giãn nở và kéo dài thời gian sinh đẻ. Ngoài ra những cố gắng rặn quá sớm ngày có nguy cơ làm cho bạn mệt mỏi và mất sức vào lúc bạn cần tham gia tích cực vào việc sinh đẻ và phung phí toàn bộ cơ năng của bạn. Bác sỹ hộ sinh sẽ thông báo cho bạn khi nào bạn có thể rặn được.

    Khi hết cơn co bóp

    Khi bạn cảm thấy cơn co bóp chấm dứt, bạn hãy hít thở hoàn toàn trở lại, thật sâu, thật chậm, nhưng trong một tiếng thở dài, sâu.

    Sau đó bạn thở lại bình thường, thư giãn càng nhiều càng tốt, điều đó sẽ giúp bạn làm chủ hoàn toàn cơ co bóp tiếp theo. Và nếu mỗi cơn co bóp bạn lại bắt đầu lại chu kỳ: thở sâu, thở nông, thở hoàn toàn.

    Thư giãn tâm trí

    Dù ở thời điểm này, bạn rất đau nhưng tập kiên nhẫn thư giãn tâm trí. Cũng như khi ngồi thiền, bạn cố gắng để cho tâm trí mình thật sự trống rỗng, lắng dịu và đừng nghĩ ngợi bất cứ điều gì. Hãy thở chậm và đều, động tác thở ra nhẹ như đang thở dài, không nên thở quá mạnh. Nếu không thể tập được theo cách này, bạn có thể tập trung vào những gì bạn thường cảm thấy thú vị trong cuộc sống và cố gắng đừng đuổi theo bất kỳ ý nghĩ nào đó bất chợt nảy ra.
     


    loading...


    do choi tinh duc | Textlink tại đây liên hệ: quangcao@phunuvn.net


Chia sẻ trang này